Nhìn lại buổi đầu sự nghiệp Nam Tiến của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng

Nhìn lại buổi đầu sự nghiệp Nam Tiến của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
Chùa Thiên Mụ ở Huế do chúa Nguyễn Hoàng khởi lập năm 1601.

Để có được những chuyển biến tích cực đó, không thể không kể đến công lao của người khởi nghiệp – chúa Nguyễn Hoàng (1525 – 1613). Chúng ta cùng nhìn lại buổi đầu dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng.

1. Sơ lược về chúa Nguyễn Hoàng

Nguyễn Hoàng là con thứ hai của Nguyễn Kim, thân mẫu họ Nguyễn (con gái của quan Đặc Tiến Phụ quốc thượng tướng quân, thự vệ sự triều Lê), ông sinh ngày 28 tháng 8 năm 1525, tại Gia Miêu ngoại trang, Tống Sơn, Hà Trung, Thanh Hoá.

Năm 1527, khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê Cung Hoàng, Nguyễn Kim đưa con em sang Ai Lao (Lan Xang, nay là Lào), lập Lê Duy Ninh làm vua (tức Lê Trang Tông), giúp nhà Lê trung hưng. Khi đó, Nguyễn Hoàng mới 2 tuổi, được cậu ruột là Thái phó Nguyễn Ư Dĩ đem về nuôi dạy.

Năm 1540, Nguyễn Kim đem quân từ Ai Lao về Nghệ An, sau đó chiếm lại Thanh Hoá giúp vua Lê Trang Tông lập Nam triều chống lại Bắc triều nhà Mạc ở Thăng Long.

Năm 1545, Nguyễn Kim bị tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết, Nguyễn Hoàng được tập phong Hạ Khê hầu. Năm 1458, nhờ lập công lớn trong việc đánh Mạc Phúc Hải, ông được vua Lê phong Đoan quận công. Lúc này, quyền hành trong triều Lê chuyển sang Trịnh Kiểm (con rể Nguyễn Kim). Sau khi có ý đồ thoán đoạt ngôi vua của nhà Lê không thành, Trịnh Kiểm sợ hai người em vợ tranh mất quyền hành nên giết chết con trai trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông (còn tên khác là Mông) và mưu đồ sẽ tiếp tục giết Nguyễn Hoàng. Trước tình thế đó, năm 1558, Nguyễn Hoàng nhờ chị ruột là Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn thủ vùng Thuận Hoá.

Năm 1570, quân Mạc tấn công mạnh vùng Thanh, Nghệ, để tăng cường phòng thủ Tây Đô, chúa Trịnh Kiểm triệu hồi Trấn thủ Quảng Nam là Nguyễn Bá Quýnh về bảo vệ Nghệ An và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản Trấn thủ Quảng Nam.

muốn sự hoà bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật […] có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. […] Từ khi người Việt Nam lập thành nước đến giờ, kể hàng mấy nghìn năm, phải người Tàu cai trị mấy lần, chịu khổ sở biết bao nhiêu phen, thế mà sau lại lập được cái nền tự chủ, và vẫn giữ được cái tính đặc biệt của giống mình, ấy là đủ tỏ ra rằng khí lực của người mình không đến nỗi kém hèn cho lắm. Tuy rằng mình còn có thể hy vọng một ngày kia cũng nên được một nước cường thịnh.” (4)

Sự thông minh, khéo chân tay, mến điều đạo đức, muốn sự hoà bình, có lòng can đảm, có tính kỷ luật, những đức tính tốt đẹp đó của dân tộc là minh chứng cho khả năng chinh phục vùng đất mới của các lưu dân Việt. Sự tiếp xúc, cọ xát với cuộc sống và nền văn hoá của các dân tộc vùng đất phương Nam đã giúp người Việt tự đổi mới mình cho thích hợp ở môi trường sống mới. Bản lĩnh của dân tộc cùng với nền văn hoá bản địa vững chắc đã tạo điều kiện cho sức sống dân tộc được nâng cao hơn. “Nam tiến là xu hướng tất yếu trong sự tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam xét về các điều kiện kinh tế-tự nhiên thuận lợi so với miền đất tổ, cũng là để bảo tồn và tăng cường sức mạnh tự vệ của cộng đồng trước sức ép thường xuyên của cường địch phương Bắc.

Những người ấy giúp chúa Nguyễn, bày mưu định kế, luyện tập quân lính, xây đồn đắp luỹ để chống với quân Trịnh” (12)

Những việc làm trên đã để lại trong lòng người dân Đàng Trong sự kính trọng và biết ơn đối với Nguyễn Hoàng. Danh hiệu Chúa Tiên mà dân chúng dành cho ông và vì sao một bộ phận dân cư vùng đất Nam Bộ ủng hộ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn là những chứng lý có sức thuyết phục.

Như vây, trong suốt 55 năm cai trị Thuận Quảng, Nguyễn Hoàng vừa là một vị tướng mưu lược, vừa là một vị chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, biết thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng, lo phát triển kinh tế, biết nhẫn nhịn chờ thời cơ, lập chí lớn, mở mang bờ cõi, gây dựng cơ nghiệp lâu dài để lại cho con cháu mai sau. Tất cả những việc làm ấy chỉ có thể có được ở những nhân vật kiệt xuất, những tên tuổi lớn của lịch sử.

Tuy nhiên, một vấn đề có thể gây băn khoăn đó là việc phải chăng Nguyễn Hoàng chọn con đường “Nam tiến”, chấp nhận hy sinh tình cảm cha con, ông cháu tức đã sẵn ý định cát cứ phương Nam, dùng bạo lực chống lại chính quyền Lê-Trịnh, đó là hành động cực đoan, hiếu chiến (?). Xét bối cảnh lịch sử bấy giờ cho thấy, trước viễn cảnh “nồi da xáo thịt”, không thể ở lại vùng đất tổ, chúa Tiên phải chọn vào Thuận Hoá là con đường sống duy nhất, phải sử dụng bạo lực để bảo vệ chính quyền mới và mở mang bờ cõi là điều tất yếu. Kết quả công cuộc “Nam tiến” đạt được mà chúng ta thừa hưởng hiện nay đã chứng minh lựa chọn của Nguyễn Hoàng là đúng đắn, đồng thời cũng là câu trả lời “sử dụng bạo lực” trong trường hợp này là chính đáng và có sức thuyết phục nhất, bởi lẽ “Người ta chỉ lên án bạo lực khi nó chưa cần thiết, nhưng trong trường hợp là con đường duy nhất thì ai cũng phải chấp nhận nó”. (13)

Bên cạnh những đức tính tốt như đã nêu trên, ở Nguyễn Hoàng còn tồn tại hạn chế mà sử liệu cho biết: Năm 1600, sau khi Nguyễn Hoàng rút quân trở lại Thuận Quảng, Trịnh Tùng sai thiêm đô ngự sử là Gia Lộc tử Lê Nghĩa Trạch đem thư thuyết phục cậu mình nên tiếp tục thần phục chính quyền Lê-Trịnh. “Hoàng nghe tin Nghĩa Trạch đến, lập mưu cướp lấy chiếu thư, làm nhục sứ giả. Đêm sai dũng sĩ đến chỗ trọ cướp lấy hết hòm xiểng đem về, xem không thấy có chiếu thư. Lại sai đến chỗ nhà trọ đốt hết cả. Hoàng cho là giấy tờ đều cháy hết ở trong đám lửa rồi, ngày hôm sau thân đem tướng tá, chỉnh đốn voi ngựa nghi vệ ra đón, trông thấy Nghĩa Trạch hai tay bưng thư đi đến, lấy làm kinh ngạc, bảo với tướng tá rằng: “Trời sinh chủ tướng, triều đình có người giỏi”. Từ đấy không có ý ngấp nghé gì nữa”. (14)

Tóm lại, con người luôn luôn tồn tại hai mặt đối lập trong một thể thống nhất, đó là tốt và xấu. Nếu ở Nguyễn Hoàng đã thể hiện những đức tính của một thủ lĩnh chính quyền mới như khôn ngoan, khéo léo trong ứng xử, mưu trí và có tầm nhìn chiến lược, hết lòng lo cho dân và biết thu phục hào kiệt thì chúa Tiên với việc mưu cướp chiếu thư, làm nhục sứ giả cho dù được biện minh với lý do không có chiếu thư thì không phải trở ra Bắc phục mệnh với triều đình là hành xử đáng chê trách. Tuy vậy, nhìn chung ông vẫn được hậu thế đánh giá cao về tư cách đạo đức và sự nghiệp mở mang bờ cõi. Ghi nhận công lao của Nguyễn Hoàng, nhà sử học Trần Trọng Kim đã viết: “Còn những công việc họ Nguyễn làm ở phía nam quan trọng cho nước Nam hơn cả, là việc mở mang bờ cõi, khiến cho nước lớn hơn, người nhiều ra, và nhất là chiêu mộ những người nghèo khổ trong nước đưa đi khai hóa những đất đai phì nhiêu bỏ hoang, làm thành ra Nam Việt bây giờ phồn phú hơn cả mọi nơi, ấy là cái công họ Nguyễn với nước Nam thật là to lắm vậy.” (15)

5. Công lao của Chúa Nguyễn Hoàng

Năm 1558, sau khi vào trấn thủ Thuấn Hoá, Nguyễn Hoàng tập trung nổ lực vào hai việc chính: ổn định bộ máy chính quyền và mở mang bờ cõi.

Để ổn định chính quyền, việc đầu tiên phải làm là chọn nơi đóng dinh cơ. Buổi đầu ông cho xây dựng trị sở ở Ái Tử (Quảng Trị). Về sau, do đất đai ngày càng mở rộng, yêu cầu an toàn của dinh cơ trong chiến tranh, năm 1570 trị sở dời về Trà Bát (cũng thuộc Quảng Trị). Năm 1602, sau chuyến kinh lý vào Quảng Nam, nhận ra vị trí yết hầu của miền Thuận Quảng, ông liền dựng dinh và cho con là Nguyễn Phúc Nguyên trấn nhậm. Sau khi Nguyễn Hoàng qua đời, các chúa Nguyễn nhiều lần dời thủ phủ vào Phước Yến rồi Kim Long (năm 1626). Cuối cùng, là Phú Xuân (Huế nay) năm 1687. Từ đó, Phú Xuân trở thành kinh đô của Đàng Trong cũng như của nước Việt thời vương triều Nguyễn (1802-1945).

Công cuộc mở mang bờ cõi được thể hiện qua các hoạt động tổ chức khai hoang, xây dựng đền chùa, tiếp biến văn hoá, chinh phạt xâm lấn, ngoại giao hôn nhân, trợ giúp khôi phục ngai vàng.

Nạn chiến tranh liên miên giữa các thế lực phong kiến Nam-Bắc triều buộc nhân dân phải phiêu tán, ách áp bức bóc lột của địa chủ quan lại đã làm nông dân khốn cùng, thiên tai liên tiếp trong nửa cuối thế kỷ XVI … là những “nhân hoạ” và “thiên tai” cho nhân dân. Để mưu sinh, nhân dân vùng Thanh Nghệ phải chạy vào Thuận Quảng, lúc bấy giờ còn là đất Champa. Vì vậy, có ý kiến so sánh cuộc “Nam tiến” của Nguyễn Hoàng với công cuộc khai thác miền viễn Tây của người Mỹ như sau: “Nếu cuộc Tây Tiến của dân tộc Hoa Kỳ vào thế kỷ XVII đã thành công ngay từ đầu nhờ kỹ thuật tiến bộ, nhờ lòng can đảm và nhất là nhờ địa thế thuận tiện (vùng đất họ đến hoang vu chưa có người khai thác), thì cuộc Nam tiến của các triều chúa Nguyễn vào thế kỷ XVII đã gặp nhiều khó khăn vì những vùng phải di dân tới đều đã nằm dưới quyền kiểm soát của Chiêm Thành và Chân Lạp.”(16)

Tuy nhiên, lịch sử cho thấy, bằng tài năng và đức độ của mình, Nguyễn Hoàng đã biết khắc phục những khó khăn và phát huy những thuận lợi trong công cuộc khai hoang.

? vùng Thuận Quảng, động thái tích cực của Nguyễn Hoàng trong chính sách khai hoang như trên đã trình bày, nhờ vậy, “nhanh chóng khai thác đất đai và nhanh chóng xây dựng Thuận Quảng thành những tỉnh phồn vinh và giàu có.”(17). Từ đó, Thuận Quảng trở thành hậu phương vững chắc cho chính quyền Đàng Trong. Ở vùng đất phía Nam, chính sách cai trị mềm mỏng của Nguyễn Hoàng đã chinh phục được người dân Champa, Chân Lạp theo về với chính quyền mới.

Cùng với đó là việc tổ chức khai mỏ, giao dịch thương mại với nước ngoài buổi đầu tuy còn đơn giản nhưng hiệu quả, quân đội được phiên chế thành nhiều binh chủng có kỷ luật, trật tự trị an được đảm bảo góp phần tạo hiệu quả của cuộc khẩn hoang.

Trong Phủ Biên tạp lục, nhận xét về chính sách trị nhậm của Nguyễn Hoàng ở xứ Thuận Quảng, Lê Quý Đôn, đã viết: “Đoan Quận Công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn 10 năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quan dân hai xứ thân yên tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp. Hàng năm nộp thuế má giúp việc quân, việc nước, triều đình cũng được nhờ…” (18)

Thuận Quảng vốn là đất cũ của người Chǎm chịu ảnh hưởng Hindu giáo, chúa Tiên đã dùng Phật giáo để thuần hoá nhân dân. Ông sửa sang và xây dựng nhiều ngôi chùa mà Thiên Mụ tự là một tiêu biểu. Tương truyền, nǎm 1601 trên gò đất cao hình rồng thuộc xã An Ninh ngày nay, có người nhìn thấy một bà già mặc quần áo xanh đỏ ngồi trên gò nói: “Phải có người tới dựng chùa ở đây mà thu góp khí thiên để giữ vững long mạch”. Ông cho xây dựng ngôi chùa và đặt tên Thiên Mụ (19). Đây là công việc to lớn có giá trị nhất đối với lịch sử Phật giáo Đàng Trong. Ngôi chùa lịch sử này đã có quan hệ mật thiết với quá trình phát triển đất Thuận Hoá và triều Nguyễn ở Việt Nam.

“Sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam và thiết lập nên nền thống trị nên nền chính trị tập quyền thì họ mang nguyên nền văn hoá của mình đến với người địa phương, bắt buộc người bản xứ mang họ Việt, chuyển thành người Việt bằng cách nói tiếng Việt và quên dần gốc gác” (20) Từ đây, một bộ phận người Việt nói tiếng Việt theo giọng Chăm hình thành. Đó là những người Việt vùng Quảng Nam, Đà Nẵng hiện nay. Đây là biểu hiện của sự tiếp biến văn hoá và cũng là hệ quả của công cuộc Nam tiến của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Sự nghiệp mở cõi về phương Nam còn được thể hiện thông qua công cuộc chinh phạt xâm lấn. Năm 1611, vì Champa quấy rối vùng biên giới, Trấn thủ Nguyễn Hoàng sai Chủ sự Văn Phong [không rõ họ] vượt đèo Cù Mông đánh Champa, chiếm đất lập phủ Phú Yên chia làm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

Năm 1653, vua Champa là Bà Thấm đem quân cướp phá Phú Yên, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đem quân chinh phạt, lấy đất từ núi Thạch Bi đến sông Phan Rang lập phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh, đặt dinh Thái Khang (tức Khánh Hoà nay).

Năm 1693, vua Champa Bà Tranh bỏ lệ triều cống, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh đem quân đi đánh, bắt được vua Champa, giải về Phú Xuân và sáp nhập phần đất còn lại của Champa vào Đàng Trong, đặt làm phủ Thuận Thành. Đến năm 1697, Quốc Chúa sáp nhập Phan Lý (Phan Rý nay) và Phan Lang (Phan Rang nay) làm Bình Thuận. Đến đây, nước Champa mất hẳn, lãnh thổ Đàng Trong mở rộng đến Bình Thuận.

Quá trình “Nam tiến” còn được các chúa Nguyễn tiến hành qua ngoại giao hôn nhân, giữa công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chay Chetta II năm 1620 và công chúa Ngọc Khoa với vua Champa Pôrômê năm 1631 qua trợ giúp khôi phục ngai vàng cho các vua Chân Lạp: Hoàng thân Sô và Ang Tan năm 1658, Hoàng thân Ang Ton và Ang Non [Nặc Ông Nộn] năm 1673. (21) Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đã nối tiếp nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê mở rộng đất nước một cách hợp pháp về phương Nam.

Tóm lại, 457 năm trước chúa Nguyễn Hoàng tổ chức cuộc “Nam tiến”. Bằng đức độ và tài năng, ông đã dựng nghiệp, mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế cho đất nước, tạo nên sự phong phú và đa dạng về văn hoá cho dân tộc. Mặc dù cũng có ý kiến trái chiều về một số vấn đề xung quanh cuộc “Nam tiến” (22) nhưng các giá trị mà chúa Tiên và các chúa Nguyễn đã mang lại cho dân tộc là những công lao to lớn của tiền nhân, bổn phận của chúng ta hiện nay là phải nhận thức rõ các giá trị đó, biết trân trọng, bảo tồn cho hôm nay và cả mai sau.

CHÚ THÍCH

(1). Về ngày mất của chúa Nguyễn Hoàng, nhiều tài liệu ghi khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư chép “Tháng 6 [Quý Sửu (1613)], thái uý Đoan Quốc công ở Thuận Quảng chết”, (Nxb Thời đại, tr. 919); Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Lịch sử Việt Nam (1427-1858), Quyển 2 Tập 1 của các tác giả Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh; Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng; Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh chủ biên đều không ghi ngày mất, chỉ ghi năm Nguyễn Hoàng mất là năm Quý Sửu (1613); Riêng sách Tóm tắt niên biểu Lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư và Trần Hồng Đức ghi “[Nguyễn Hoàng] mất ngày 21-5-1613”, (Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội-1997, tr. 167); Thế thứ các triều vua Việt Nam của Nguyễn Khắc Thuần ghi “[Nguyễn Hoàng] mất vào tháng 6 năm Quý Sửu (1613)”, (Nxb Giáo dục, tr. 99); Tạp chí Xưa và Nay, số 431, tháng 7-2013, ở mục Tin tức hoạt động sử học có ghi: “Theo lịch sử để lại, chúa Nguyễn Hoàng mất vào mùng 3-6 âm lịch năm Quý Sửu (1613), …”(tr. 42).

(2). Nguyễn Phan Quang-Trương Hữu Quýnh-Nguyễn Cảnh Minh (1977), Lịch sử Việt Nam (1427-1858). Quyển 2 tập 1. Nxb Giáo dục, tr. 70.

(3). GS. Trương Hữu Quýnh-GS. Đinh Xuân Lâm-PGS. Lê Mậu Hãn (2001), Đại cương lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo dục, tr. 340.

(4). Trần Trọng Kim (2000), Việt Nam sử lược. Quyển 1. Nxb TPHCM, tr 6-8.

(5). Trần Bạch Đằng, Tính năng động, sáng tạo của người Việt sống trên đất phương Nam. Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII – XVIII, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, tháng 5/2002, tr 4.

(6). Trần Bạch Đằng, sđd, tr. 9.

(7). Trần Trọng Kim (2000), Việt Nam sử lược. Quyển 2. Nxb TPHCM, tr 19.

(8). Trần Trọng Kim, Sđd. Quyển 2, tr 32.

(9. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2011), Đại Việt sử ký toàn thư. Nxb Thời đại, tr 913.

(10) và (11). Quốc sử quán triều Nguyễn (1960), Đại Nam thực lục tiền biên, Viện Sử học, tr 44.

(12). Trần Trọng Kim, Sđd. Quyển 2, tr 39-40.

(13). Trần Văn Giàu, Người đánh thức một thế hệ thanh niên còn mê ngủ, Tạp chí Hồn Việt, số 72, tr 47.

(14). Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (2011), Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tr 915.

(15). Trần Trọng Kim, Sđd. Quyển 2, tr 90.

(16). Lê Đình Cai (1971), 34 năm cầm quyền của chúa Nguyễn Phúc Chu. Đăng Trình xuất bản, tr. 84.

(17). Nguyễn Phan Quang-Trương Hữu Quýnh-Nguyễn Cảnh Minh, Sđd, tr 117.

(18). Lê Quý Đôn (1964), Phủ Biên tạp lục, Nxb Khoa học, tr.42.

(19). Trần Mạnh Thường (2005), Việt Nam Văn hoá và Lịch sử. Nxb Thông tấn, tr 804.

(20). Hồ Trung Tú (2011), Có 500 năm như thế. Nxb Thời đại, tr. 80.

(21). Xem Phan Đăng Thanh, Vài khía cạnh hành chính-pháp lý trong quá trình thu nhận và quản lý bước đầu vùng đất Gia Định. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII-XIX do Trường Đại học sư phạm TPHCM tổ chức, tháng 5 năm 2002, tr 154-157 và Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2006), Lược sử vùng đất Nam Bộ. Nxb Thế giới.

(22). Xem Trần Viết Ngạc, Nguyễn Hoàng 400 năm nhìn lại. Tạp chí Xưa và Nay số 432, tr 6-10.

Theo CHIM VIỆT CÀNH NAM

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*